.jpg)
HỒ GIANG MỘT THẮNG CẢNH TRONG QUẦN THỂ KHU DU LỊCH SINH THÁI QUẾ SƠN
Dọc theo rìa phía Đông ngọn núi Hòn Tàu, tách ra từ quốc lộ số một, con đường xẻ núi băng ngang qua địa phận các xã Quế Xuân, Quế Phú, Quế Hiệp, Quế Long rồi tiếp giáp với đường Đèo Le gập ghềnh khúc khuỷu nối liền các địa danh từng vang tiếng một thời trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Đó là con đường có tên phổ thông “đường Quốc Phòng”. Từ ngã ba tiếp giáp đường Quốc Phòng và đường đi Đèo Le, ta nhận ra cảnh Hồ Giang thơ mộng với mặt nước thoai thoải, với đàn cò trắng chao lượn, với những tấm lưới quăng vội từ những chiếc thuyền nan bé bỏng của ngư dân vốn là những người dân quanh hồ kiếm sống bằng cả hai nghề: hái củi, đánh cá để được mệnh danh là tiều phu và ngư phủ. Phía bên bờ Tây của hồ là hành lang xanh tự nhiên, chân của dãy núi Hòn Tàu hùng vĩ, dãy núi mang nhiều huyền thoại và rất đỗi tự hào với nhân dân địa phương …

Ảnh Nhành cỏ non
Hồ Giang là tên gọi chung của một thắng cảnh, nhưng tên khai sinh được ghi trong hồ sơ của những người làm công tác thủy lợi là: Công trình thủy nông Hồ Giang. Hồ Giang được mang tên cho công trình này vì đây là sự hợp nhất của ba con đập thủy nông do nhân dân địa phương tự xây dựng từ lâu đời để tưới tiêu cho hai cánh đồng là đồng Canh và đồng Bằng (Hai cánh đồng này, hiện nay đều nằm trong lòng hồ). Ba con đập đó là: Đập Thiết, Đập Giang và đập Nà Bang. Trong đó, đập Giang là đập lớn nhất (Đập Giang nguyên là một cái hố, hai bên bờ mọc rất nhiều cây giang, một giống cây thuộc họ nhà tre, có lóng dài, ruột rỗng, thân dài nhưng không đứng thẳng như tre, nhân dân thường dùng nó để làm lạt buộc cho các loại bánh như bánh tét, bánh ú…). Hồ Giang hay Hố Giang có nguồn gốc ban đầu từ Thác Đá Đen nằm ở lưng sườn núi Hòn Tàu, khi thác Đá Đen đổ về hố Vuông xuống hố Bắt Cầu, về suối Lớn tại đèo Đá Trắng thì chia làm hai nhánh, một nhánh về Quế Hiệp và nhánh lớn hơn đổ về suối Hang Trinh, hố Lấu ở làng Lộc Sơn, xã Quế Long. Nhánh này là đầu nguồn của dòng sông Ly Ly có tên địa phương tại đây là sông Nà Bang.

Ảnh Nhành cỏ non
Năm 1975, sau khi đất nước được hòa bình độc lập, người dân phiêu dạt khắp nơi lại trở về làng cũ xây dựng cuộc sống từ trong hoang tàn đổ nát. Chiến tranh, bom đạn đã cày nát đến tả tơi, xóm làng tan hoang, núi rừng biến thành đồi trọc, các nguồn nước bị khô kiệt. Năm 1976 hạn hán lớn, đất khô nẻ gây khó khăn trong sản xuất, mùa màng thất bát, lương thực thiếu thốn. Trước thực tế này, UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng quyết định xây dựng công trình “Trung thủy nông Hồ Giang” để vận dụng tích trữ những nguồn nước còn lại dùng tưới tiêu ruộng đồng, hỗ trợ cho nhân dân vốn đã chịu quá nhiều đau khổ trong chiến tranh và giao cho UBND huyện Quế Sơn làm chủ công trình. Theo thiết kế là ngăn đập trên sông Nà Bang từ chân núi Hòn Tàu qua rừng Cấm Lớn ở phía Đông, lấy đồng Canh, đồng Bằng và ba con đập đã có để làm lòng hồ. Năm 1977, công trình Hồ Giang chính thức được khởi công xây dựng, dựa vào sức người là chính. Lực lượng lao động được huy động trên quy mô toàn huyện (Huyện Quế Sơn lúc đó là huyện lớn bao gồm cả huyện Nông Sơn và huyện Hiệp Đức) gồm lực lượng chủ lực (Thanh niên xung phong và thanh niên các xã gửi về); lực lượng dịch vụ (Bao gồm các tổ nhóm nông dân ở các hợp tác xã gửi đi và làm việc ngắn hạn, hưởng chế độ công điểm); lực lượng học lao động (Là lực lượng thanh niên lười lao động được gửi đến để rèn luyện kỹ năng lao động); lực lượng học sinh, giáo viên cấp hai và cấp ba.

Ảnh Nhành cỏ non
Về công cụ, phương tiện lao động như trên đã nói “dựa vào sức người là chính”, vì lúc đó đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh tương tàn khốc liệt, còn nghèo nàn lạc hậu, chưa có được những phương tiện kỹ thuật hiện đại như bây giờ mà chỉ dựa vào những phương tiện truyền thống như cuốc, xẻng, thúng, mủng, ki, trạc, đầm gỗ…và phương thức lao động như đào bới, khuân vác, gánh gồng, cõng, đội…về phương tiện hỗ trợ cao nhất lúc đó là xe cải tiến và xe rùa bánh gỗ tự chế…nhưng như nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: “Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Ảnh Nhành cỏ non
Các lực lượng tham gia đã làm việc ngày đêm, không mệt mỏi và họ đã chiến thắng tất cả những trở ngại, khó khăn để đến năm 1979, sau ba năm vật lộn với thời tiết khắc nghiệt, với muôn vàn khó khăn chung của đất nước, ban quản lý công trình đã nói lên được kỳ tích là tổ chức khánh thành công trình ở mức cơ bản. Đến năm 1981 con đập Hồ Giang hoàn thành với diện tích lưu vực Flv = 8,05 km2, chiều dài dòng chảy chính L = 3,0 km và hệ thống đường kênh dài gần 13.000m, dùng tưới tiêu cho 500ha đất sản xuất nông nghiệp của các xã Quế Long, thị trấn Đông Phú và Quế Châu đồng thời làm nhiệm vụ tích trữ nước phòng lũ cho vùng hạ lưu đập.

Ảnh Nhành cỏ non
Đến nay trải qua bốn mươi năm tuổi đời, những tàn tích cùng những dư âm chiến tranh đã lùi xa, đất trống đồi trọc quanh vùng đã được phủ xanh, chim muông về hội tụ, những kỳ hoa dị thảo của núi rừng đua nhau khoe sắc, những thác nước trắng xóa từ trên đỉnh Hòn Tàu đã thật sự hồi sinh đổ về và bắt đầu trỗi lên bài ca muôn đời của thiên nhiên hùng vĩ, Hồ Giang lại khoác lên trên mình một diện mạo mới, một sứ mệnh mới – sứ mệnh hóa thân để trở thành một danh lam thắng cảnh.

Ảnh Nhành cỏ non
Giờ đây, đập thủy nông Hồ Giang đã hoàn toàn lột xác, ngoài nhiệm vụ tích trữ nước tưới tiêu cho ruộng đồng và phòng chống lũ, nơi đây còn là một danh lam thắng cảnh thơ mộng kết nối liên hoàn với những thắng cảnh du lịch nổi tiếng của Quế Sơn như Khu du lịch Suối Tiên, Khu du lịch Suối Nước Mát - Đèo Le, giúp cho bao người mệt mỏi với những cảnh ồn ào náo nhiệt ở chốn// phồn hoa đô hội hay những người quanh năm cần cù lao động ở mọi lĩnh vực…có nơi để nghỉ dưỡng, được gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu k/hông khí trong lành tinh lọc từ những tán lá rừng xanh mát, thưởng ngoạn những cảnh trí thơ mộng, giải tỏa những âu lo muộn phiền và làm cho tâm hồn thanh thoát trong sáng, để tình người mãi mãi được gần nhau./.

Nhành cỏ non- Team Blog Quảng Nam
Theo Ban Biên tập QS
09/02/2023