.jpg)
Năm 1972, trong mưa bom, bão đạn ở chiến trường Quảng Đà, nhà thơ Dương Đức Quảng, nguyên phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có bài thơ “Gởi dòng sông thân yêu” viết về một trong những biểu tượng thơ ca của đất Quảng: sông Thu Bồn.

Bài thơ giàu xúc cảm, ngỡ như tác giả đã nói hộ được tâm tình cho tất cả những ai từng có những năm tháng gắn bó với dòng sông Thu Bồn. Khổ cuối bài thơ, tác giả viết: “Rồi sẽ trở lại đây ngày mai/ Tôi xin gởi dòng sông này tất cả/ Dòng sông thân yêu, dòng sông kỳ lạ/ Đi suốt cuộc đời vẫn tình yêu đầu tiên…”. Quả vậy, bao nhiêu năm nay, những văn nghệ sĩ từng đi qua chiến tranh nơi mảnh đất xứ Quảng đã có biết bao cuộc tìm về với sông từ ngọn nguồn cho đến nơi cuối dòng chảy. Bởi, dọc dài sông mẹ Thu Bồn, đâu chỉ có kỷ niệm bi hùng một thời khói lửa, mà ở đó, bạn bè văn nghệ sĩ từ khắp nơi đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, sống, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật và vĩnh viễn nằm lại với Thu Bồn… Mỗi lần tìm về là một lần đong đầy nhớ thương và nước mắt. Sông cứ trôi trong khúc tưởng niệm của lòng người…
Khi ngược ngàn Trà My để thực hiện bộ phim tài liệu “Khúc tưởng niệm bên dòng sông”, chúng tôi không thể quên Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung đã bật khóc nức nở trong một lần đặt chân trở lại Trà My. Lần ấy ông bảo với tôi, mỗi khi trở lại mảnh đất này là lòng bồi hồi nhớ lại biết bao tháng ngày gian khổ cùng đồng đội, đồng bào. Đi qua từng con đường, từng khúc sông, từng khu nghĩa trang, từng bia tưởng niệm, nhà văn Nguyễn Chí Trung đều kể về kỷ niệm một thuở chưa xa. Còn với nhà văn Nguyễn Bá Thâm vẫn luôn đau đáu một nỗi đau, một niềm nhớ thương khôn nguôi đối với nhà thơ Nguyễn Mỹ, một người anh, người đồng đội, luôn sống chân thành, thủy chung với anh em, đồng chí, đồng đội ở Hội Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ.
Cũng vậy, Đại tá, nhà văn Vũ Thị Hồng - vợ nhà văn Chu Lai đã không cầm được nước mắt mỗi khi có dịp trở lại Quảng Nam, tìm đến, thắp nhang và đọc lại những vần thơ trong “Cuộc chia ly màu đỏ” của đồng đội chị - nhà thơ Nguyễn Mỹ tại Nghĩa trang liệt sĩ Trà My. Những giọt nước mắt như thể vừa bắt gặp lại kỷ niệm trong sâu thẳm tâm hồn ngày nào và những giọt nước mắt tiếc thương, đau xót cho cuộc đời, số phận của nhà thơ mà đến bây giờ thân xác vẫn còn lẫn khuất đâu đó ở những cánh rừng già Trà My nơi đầu nguồn con sông mẹ Thu Bồn. Nhà thơ Nguyễn Mỹ sinh năm 1935, quê ở xã An Nghiệp huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, 16 tuổi, anh xung phong đi bộ đội và tập kết ra Bắc. Năm 1964, anh sáng tác bài thơ nổi tiếng “Cuộc chia ly màu đỏ”. Năm 1968, anh trở về Nam chiến đấu và sáng tác tại Ban Tuyên truyền Văn nghệ khu 5. Nguyễn Mỹ ra đi ở tuổi 35 mà chưa kịp có một cuộc chia ly màu đỏ như trong thơ anh: Nắng vẫn còn ngời trên những lá si/ Và người chồng ấy đã ra đi…/ Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế/ Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ/ Gió nói, tôi nghe những tiếng thì thào “Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau…
Ở cạnh nơi nhà thơ Nguyễn Mỹ nằm lại, xuôi theo dòng chảy đến sông Nước Y, huyện Bắc Trà My là nơi họa sĩ Nguyễn Xuân Anh hy sinh. Và khi chảy qua đất Hiệp Đức với con sông Trà Nô, ôm dọc đường 14E nối quốc lộ 1 với đường Hồ Chí Minh là chỗ họa sĩ Hà Xuân Phong nằm lại. Nguyễn Xuân Anh và Hà Xuân Phong là những họa sĩ xung phong vào chiến trường để sáng tác và chiến đấu. Họ ngã xuống khi ở độ tuổi sung sức nhất của sự sáng tạo. Nhà điêu khắc Phạm Hồng, người con của Hà Nội, vào chiến trường Quảng Nam chiến đấu, ông là người may mắn còn lưu giữ gần 100 bức ký họa chiến tranh của họa sĩ Hà Xuân Phong.
Ở những ký họa chiến tranh này, chúng ta nhận ra cuộc sống chiến đấu gian khổ, nhưng đầy anh dũng, vẻ vang của quân và dân chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng và khu 5. Đặc biệt, trong chiến dịch giải phóng Nông Sơn ngày 18.7.1974, một cứ điểm quan trọng nằm bên dòng sông Thu Bồn, họa sĩ Hà Xuân Phong đã mô tả trọn vẹn chiến dịch này bằng những bức ký họa sống động, chân thực, tất cả như một cuốn phim tài liệu về trận chiến này. Cảm động nhất là những hình ảnh dòng sông Thu Bồn đón mừng đoàn quân chiến thắng và đón chào người dân trở về trong ngày vui thống nhất. Họa sĩ Hà Xuân Phong quê ở Đà Nẵng. Khi vượt tuyến ra miền Bắc, anh đang tuổi học trò. Là người có năng khiếu hội họa nên anh thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, nhưng vì quê hương đang chìm trong khói lửa và tiếng gọi thanh niên lên đường vì miền Nam ruột thịt thôi thúc, anh xung phong trở về quê hương. Anh nằm xuống trên bãi cát của dòng Trà Nô một ngày cuối năm 1974, khi ngày thống nhất đất nước đã gần kề…
Tại Bảo tàng Quân khu 5 hiện có một tấm bia cao 2m, khắc tên gần 200 liệt sĩ - văn nghệ sĩ - nhà báo đã ngã xuống chiến trường khu 5 với hình tượng ngọn lửa đang tỏa cháy kiêu hãnh trong đó có những Nguyễn Mỹ, Hà Xuân Phong, Nguyễn Xuân Anh và bao nhiêu người nằm lại dọc dài sông Mẹ Thu Bồn. Và “ngọn lửa đá” ấy đã trở thành nơi tìm về với những hoài niệm hào hùng của các thế hệ văn nghệ sĩ và những người yêu nước; vẫn rừng rực cháy, bền bỉ, tận hiến như tinh thần, khí phách của những nhà báo, văn nghệ sĩ - chiến sĩ một thời… Còn chúng tôi, mỗi khi có dịp trở lại nơi các anh hy sinh, lòng lại nao nao một cảm giác thật khó tả lúc thả những bông hoa trắng trôi miên man nơi ngọn nguồn sông Mẹ…
NGỌC KẾT - QUANG NGUYỄN