Blog Quảng Nam

Bản tin

BẠN VÀ TÔI- Truyện ngắn của Trần Ánh

Ngày: 

12/05/2023

Lượt xem: 

998

BẠN VÀ TÔI

 

Vào mùa xuân năm 1990, tôi đang ở trường phổ thông cơ sở số 2 thị trấn Trà My còn bạn tên Hứa Văn Hòa thì đang công tác tại trường Thanh niên dân tộc miền núi huyện Trà My. Đùng một cái chúng tôi gồm 4 người ( tôi, Hòa và 02 cô giáo tên Lộc, Đán ở trường PTCS Số 1 thị trấn Trà My ) nhận được Quyết định đi tăng cường chia lửa cho vùng cao, tại xã Trà Nam nơi mà đang diễn ra cao điểm của bệnh sốt rét, toàn bộ giáo viên, cán bộ đều là "bệnh binh"; người thì về bệnh viện Tam Kỳ, người thì về bệnh viện Trà My, người thì đào ngũ về quê chỉ còn lại hiệu trưởng và 1 bảo vệ, 1 phục vụ người dân tộc Ca Dong.

 

Từ thị trấn Trà My ( Trung tâm Bắc Trà My), chúng tôi lên Tăk Pỏ ( Bây giờ là trung tâm huyện Nam Trà My), mất 4 tiếng đồng hồ bằng xe đò, tuy rằng khoảng cách giữa trị trấn Trà My chỉ có 60 km, chúng tôi mất 3 ngày mới mua được vé xe đò, ngày ấy mỗi một ngày chỉ có một chuyến xe đò Trà My - Tawk Pỏ.

 

Ngày thứ nhất chúng tôi ra bến xe vào lúc 6 giờ sáng xếp hàng chờ đến 7 giờ cô bán vé xe mới mở cửa bán vé, sau 30 phút thì vé đã được bán xong nhưng số người mua được vé chỉ một nửa số người xếp hàng, chúng tôi đành ra về và như thế là mất toi một ngày.

 

Ngày thứ hai chúng tôi rút kinh nghiệm đến sớm hơn 1 tiếng, nhưng vẫn không mua được vì số lượng người đi càng đông hơn ngày thứ nhất, lúc bấy giờ ngoài cán bộ, giáo viên thì số lượng người đi buôn, làm trầm, làm vàng đổ xô lên núi rất nhiều, cho nên nhưng người ở đồng bằng lên ăn, ngủ tại bến xe và xếp hàng mua vé rất sớm. Thế là tôi mất toi 2 ngày dậy sớm, chen chúc xếp hàng, nhưng bù lại là thêm 2 ngày ở gần người mình yêu.

 

Ngày thứ ba, tôi nhờ phòng Giáo dục huyện Trà My can thiệp đến Bến xe và được giải quyết theo chế độ ưu tiên dành cho cán bộ huyện đi công tác, vì vậy đúng 8 giờ chúng tôi lên xe đò chạy bằng than hướng về Tăk Pỏ, quãng đường từ Trà My lên Tăk Pỏ là đường đất, và rất nhiều dốc đứng, cứ khoảng 5 km thì có một dốc, cứ qua mỗi dốc là khách trên xe phải xuống đẩy xe lên dốc, nhưng dẫu sao thì đi xe vẫn khỏe và rút ngắn thời gian so với đi bộ khoản 1/4 thời gian.

 

Đến 12 giờ trưa chúng tôi đến Tăk pỏ, chúng tôi vào trường phổ thông cơ sở Trà Mai ( Tăk Pỏ) ở lại nghỉ một hôm, sáng hôm sau tiếp tục lên đường, từ Trà Mai tiếp tục đi về hướng tây nam đến xã Trà Nam mất một ngày đường bộ, vì vậy chúng tôi phải nghỉ lấy sức.

 

Tám giờ sáng hôm sau chúng tôi vác ba lô tiếp tục lên đường, do ở vùng núi miền cao sương mù dày đặc, đường sương ẩm ướt thì con Vắt rất nhiều nó búng lên người cắn và hút máu giống như con Đỉa. Chúng tôi đi qua cầu treo con suối Nước Là men theo dòng sông Tranh, vượt qua bao cánh rừng bạc ngàn đi về phía nam.

 

Đến xã Trà Don vào lúc 12 giờ trưa ngày thứ 2, chúng tôi dừng lại ăn trưa, nghỉ khoảng 1 tiếng đồng hồ thì lại tiếp tục cuộc hành trình, đến khoản 3 giờ chiều gần đến xã Trà Nam, tôi nghe mùi hương thơm ngan ngát thật dễ chịu , tôi ngẩng đầu nhìn lên phía trước mặt là một cánh rừng hoa phong lan tim tím đẹp vô cùng, được gắn vào những cây cổ thụ cao vút. Đến 4 giờ chiều chúng tôi đã đến trường xã Trà Nam, Trường xã Trã Trà Nam nằm bên kia sông Tranh, bên này qua bên kia sông phải đi qua một cái cây treo được làm bằng mây vắt vẻo, lần đầu tiên đi qua cái cầu này chúng tôi phải vừa đi vừa bò mới qua được sông, hai cô giáo thì vừa run vừa khóc, tôi và Hòa đi qua một lần lấy tinh thần rồi quay lại dắt 2 cô qua cầu. Vừa tới trường là chúng tôi liền phân công nhau, 2 cô thì đun lửa nấu cơm, còn anh Hiệu trưởng( tên Luận ) của trường dắt tôi và Hòa đem lưới xuống sông đánh cá, Luận đưa chúng tôi xuống dưới dòng thác của sông Tranh, ở đây nước trong xanh và mát lạnh, tôi nhìn xuống dòng thác là một đàn cá đang tung tăn bơi lội, chúng bơi ngược lên dòng thác, giăng lưới theo vòng cung dưới thác, bơi gần dòng thác chảy để đuổi cá bơi ra, trong khoảng 20 phút kéo lưới lên là một lưới nặng tầm khoảng hơn 2kg cá, những chú cá niên to bằng 3 ngón tay chúng tôi mang về nướng vừa ăn cơm vừa làm mồi, thế là một bữa nhậu chào mừng của Hiệu trưởng đón chúng tôi.

 

Chúng tôi nghỉ ngơi, ăn ở tại đây được 3 ngày thì Hiệu trưởng bắt đầu họp chúng tôi lại, trao đổi tình hình hoạt động của trường, hiện tại hoạt động giảng dạy tại đây tạm dừng hơn 3 tháng nay, vì không có giáo viên do toàn bộ giáo viên đã bị sốt rét, về chữa bệnh và một số giáo viên sau khi chữa bệnh thì bỏ nhiệm vụ không quay lại công tác. Xã có 5 thôn, các thôn ở khu vực lân cận thì về tập trung tại cơ sở chính của xã để học, riêng thôn 5 là thôn xa nhất giáp giới huyện Tu mơ rông của tỉnh Kon Tum, từ xã đi đến thôn 5 phải mất hơn 4 tiếng đồng hồ đường đèo dốc, vì vậy tôi và Hòa được phân công lên thôn 5, cô Lộc và Đón thì ở lại trường xã.

 

Tôi và Hòa tiếp tục mang ba lô lên đường theo hướng nam tiến về thôn 5 Trà Nam, đến đây chúng tôi vào làng, tìm đến già làng và thôn trưởng để báo cáo công tác. Già làng mời chúng tôi cơm tối và không quên đãi chúng tôi một bữa rượu cần với mồi thịt trâu gác bếp, Già làng người Ca Dong tên gọi theo tiếng Ca Dong nên rất khó nhớ, nên chúng tôi gọi là Già chứ không gọi tên. Ban đầu Già sợ chúng tôi không uống rượu chung cần được nên rót ra chén nước rượu được lên men và nổi lên trên, như nước mắm nhỉ, rượu thơm ngon rất tuyệt. Tôi và Hòa uống được khoản 5 chén thì chúng tôi ôm cần uống cùng với Già, thôn trưởng và dân làng, uống suốt đêm, cứ ché rượu này nhạt đi thì Già sai dân làng mang ché khác, khi đến tầm 2 giờ sáng thì tôi đã lăn quay không biết trời trăng mây gió, 8 giờ sáng tôi thức giấc sau khi cơm nước xong, Già dẫn chúng tôi ra một đồi bên cạnh cao hơn so với làng, nơi mà thanh niên làng đang tập trung đốn tre nứa mang về để sửa sang lên ngôi trường và một căn nhà nhỏ để 2 anh chúng tôi ở, đường ống nước bắt từ trên suối về cũng đã được thay đường ống mới. Chỉ trong một ngày thì tất cả đã hoàn tất, 2 phòng học, 1 phòng ở được làm toàn bộ bằng tre nứa; Những cây cột kèo, thì được làm bằng tre gốc to; ngọn và những cây nhỏ mỏng thì đập dập để lợp và làm phênh che chắn xung quanh.

 

Như vậy, là chúng tôi bắt đầu cuộc sống và làm việc giữa đại ngàn cùng với đàn em nhỏ. Chúng tôi dạy các em viết chữ, tập đọc, và những bài hát thiếu nhi; những lúc rảnh rỗi chúng tôi xuống sông bắt cá, bờ ruộng để hái rau má, (vì ở đây có cả rẩy và ruộng bậc thang người dân trồng lúa nước ) để cải thiện cuộc sống. Cuộc sống ban đầu rất vui, đám trẻ cứ quấn quýt với thầy, ngoài việc học chúng còn đi bắt cá, hái rau mang về biếu thầy. Những ngày nghỉ tôi và Hòa rủ nhau đi qua các thôn, nóc khác để khám phá và đổi chác hàng hóa với dân, chủ yếu là chúng tôi mang hạt cườm nửa đỏ nửa đen từ dưới lên để đổi nào trứng gà, gà thịt để về ăn; đổi quế để khi nào về mang về đồng bằng bán ( lúc bấy giờ, sâm Ngọc Linh chưa có giá trị như bây giờ). Có hôm chúng tôi qua tận thôn 5 Trà Don, cách nơi chúng tôi ở đi hơn buổi đường, là một nóc xa xôi hẻo lánh, rất ít khi người Kinh lui tới, lâu lâu mới có dân làm trầm vào làng để tìm lương thực, thực phẩm. Ở đây cũng có một lớp học, một cô giáo đang dạy, tôi nhớ cô tên là Hường, cô Hường dạy ở đây đã 3 năm nhưng chưa về thăm nhà, khi thấy chúng tôi ghé vào cô rất mừng, ôm chầm chúng tôi và khóc nức nở, ban đầu tôi và Hòa rất ngạc nhiên, và chờ cho cô bình tĩnh lại hỏi ra thì mới biết, từ khi cô lên đây chưa gặp được người kinh nào, lúc cô lên có một cán bộ phòng GD dẫn lên rồi xuống núi, một mình cô ở lại, cô nghĩ rằng chúng tôi lên đây là để thế cho cô xuống núi để được về thị trấn dạy và có điều kiện về thăm gia đình. Nhưng cô đâu biết vì chúng tôi chỉ qua đây thăm viếng và có ý định tìm quế, thế rồi cô dẫn chúng tôi vào làng, và dân làng tiếp chúng tôi một bữa no say nào là thịt gà, heo gác bếp rượu cần, sáng hôm sau chúng tôi đổi được 20 kg quế loại 1 cõng về.

 

Cuộc sống của chúng tôi cứ tiếp diễn như thế được 6 tháng thì Hòa lên cơn sốt rét, ba ngày cứ sốt cao 40-410c, trước khi đi chúng tôi cũng có mang theo một số thuốc nhưng vẫn không ăn thua gì, sau 3 ngày Hòa uống thuốc cũng không cắt cơn được, tôi quyết định đưa Hòa xuống núi, chúng tôi vứt hết vật dụng cá nhân, chỉ mang theo một bộ quần áo, khăn tắm và chén bát và một ít gạo dụng cụ để nấu cháo, còn lại đều để lại cho nhẹ, kể cả 20 kg quế cũng vứt lại, giá trị 20 kg quê loại 1 lúc đấy nếu mang về đồng bằng bán thì cũng được hơn 1 năm lương, nhưng đành ngậm ngùi vậy vì phải dìu Hòa xuống núi.

 

Về tới thị trấn Trà My tôi đưa Hòa vào bệnh viện, 3 ngày sau lại đến lượt tôi vào viện vì cơn sốt rét đã đến; Chúng tôi nằm viện đâu khoảng 1 tháng thì cơn sốt rét mới được cắt, sau đó về dưỡng bệnh khoảng 2 tháng mới quay lại đơn vị cũ công tác, không lên lại Trà Nam nữa. Đến đầu năm học 1991 - 1992 thì Hòa chuyển công tác vào Bảo Lộc - Lâm Đồng, còn tôi thì công tác tại trường Phổ thông cơ sở thị trấn 2 Trà My đến năm 1994 thì chuyển công tác về quê.

 

Chúng tôi xa nhau từ đó đến bây giờ tròn 30 năm, nhân dịp Ban liên lạc Hội cựu Giáo chức Trà My tổ chức cuộc " Gặp mặt một thời không thể nào quên - Cựu cán bộ, giáo viên, nhân viên huyện Trà My thời kỳ kháng chiến, giai đoạn 1975 - 1995" chúng tôi mới có dịp gặp lại. Những ký ức 30 năm lại ùa về trong ngày hội tụ, chúng tôi huyên thuyên kể về quá khứ một thời " không thể nào quên" một hành trình của tuổi thanh xuân của chúng tôi, rất gian khổ nhưng nhiều kỷ niệm đẹp. Một đại ngàn luôn ở trong tim chúng tôi, những tiếng cồng chiêng, những tiếng con Mang tát, tiếng chim Họa Mi, Sơn Ca hót trong rừng, tiếng rì rào của thác là những hợp âm êm ã như bản tình ca vang vọng mãi theo những bước chân những người đi gieo chữ, những người đã, đang và sẽ mãi mãi giữ hương cho đất Trà My luôn thơm ngát.

 

 

 

Tác giả: Trần Ánh (Trần Thắng Đông)

Quế An, Quế Sơn, Quảng Nam

*Cám ơn TG đã gởi bài về Blogquangnam

Bài Viết Liên Quan

Danh Mục

Loading...

Xem thêm

Tags